Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic




НазваниеẢnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic
страница4/17
Дата11.10.2012
Размер1.05 Mb.
ТипДокументы
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

CƠ CHẾ LỢI ÍCH LÂM SÀNG




Hình 1.Cơ chế và lợi ích lâm sàng của probiotic

1.2.6. Tính an toàn, liều lượng probiotic sử dụng

Phần lớn Lacbobacilli dùng trong thực phẩm là không gây bệnh, không gây hại và không độc [159]. Nhiều chủng LactobacilliBifidobacteria được dùng nhiều trong thực phẩm truyền thống và được thừa nhận là an toàn. Cho đến nay có hơn 70 nghiên cứu lâm sàng với sự tham gia của hơn 4000 trẻ thì chưa có báo cáo nào cho thấy có tác hại lên trẻ liên quan đến probiotic. Trong báo cáo của FAO/WHO đánh giá probiotic trong thực phẩm đã công bố “mối liên quan giữa bệnh dịch của con người và việc sử dụng probiotic được ghi nhận là ít và tất cả các trường hợp này chỉ xuất hiện ở những bệnh nhân nặng” [71]. Nhiễm trùng máu do Lactobacilli từ môi trường ngoài, từ thức ăn hoặc từ phân là rất hiếm gặp. Các ca nhiễm trùng L.Rhamnosus có liên quan đến probiotic ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch là không phổ biến [103]. Cơ chế và con đường lây nhiễm bệnh là chưa rõ. Trẻ sơ sinh có thể mắc bệnh từ nhiều vi khuẩn có mặt trong cơ thể. Tuy nhiên sự thật là Bifidobacteria có nhiều ở trẻ (đặc biệt là ở trẻ bú mẹ), nhưng cơ chế sinh bệnh thì chưa được ghi nhận. Bifidobacteria có mặt trong nhiều thực phẩm như sữa chua, bao gồm sữa chua dành cho trẻ đã ăn dặm. Đối nghịch lại, thỉnh thoảng còn có các báo cáo về việc nhiễm trùng máu do Lactobacilli, nhưng việc nhiễm trùng máu do Bifidobacteria trong sản phẩm thương mại dù có hay không có Bifidobacteria. Bifidobacteria được sử dụng trong sữa công thức hơn 15 năm nhưng chưa có trường hợp nào bị bệnh hoặc các tác dụng có hại.

Đặc biệt, các nghiên cứu cũng cho thấy tính an toàn và phát triển tốt khi sử dụng B.Lactis cho trẻ từ khi mới sinh [163], cho các nhóm có nguy cơ cao như trẻ đẻ non [114], trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ của bà mẹ bị HIV [56].

Đối với tính an toàn thì dựa trên các thông tin sẵn có hiện nay thì Bifidobacteria, đặc biệt là B.Lactis là có độ an toàn tốt và là probiotic tốt được sử dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Lactobacilli, đặc biệt là L.Rhamnosus nhìn chung là an toàn, là probiotic phù hợp cho trẻ ở độ tuổi lớn hơn. Trong khi chưa có số liệu về từng probiotic cụ thể thì việc sử dụng probiotic nói chung không nên khuyến cáo cho các quần thể có miễn dịch yếu. Mặc dù liều lượng chưa được nghiên cứu và chúng khác nhau ở nhiều nghiên cứu. Chưa có nghiên cứu nào công bố hiệu lực với việc sử dụng < 107 – 1010 CFU cho một lần dùng hoặc cho 1 liều. Liều hằng ngày dao động từ 108 - 1010 CFU/ngày. Phần lớn các sản phẩm có chứa vi khuẩn sống được nghiên cứu chứa từ 107 - 1010 CFU cho mỗi lần dùng, đã kiểm soát tốt khả năng sống của vi khuẩn trong thời hạn sử dụng của sản phẩm. Số lượng vi khuẩn ở đầu xa của ruột dao động đến 1012 CFU/ ml dịch ruột.

Vấn đề cuối cùng là cách cung cấp probiotic. Nếu probiotic được sử dụng để điều trị thì nó phải được cung cấp theo ‘liều’ dưới dạng viên nang hoặc viên nhộng. Tuy nhiên, khi sử dụng probiotic trong nhi khoa với mục tiêu phòng ngừa dị ứng, tiêu chảy liên quan đến kháng sinh, tiêu chảy cấp do virus, cần bổ sung dài hạn thì các probiotic nên đưa vào thức ăn như sữa chua, nước giải khát, thức ăn bổ sung, sữa công thức sẽ giảm được chi phí so với ‘bổ sung’ hằng ngày.

Ở Bắc Mỹ, một số probiotic được sử dụng như ‘chất bổ sung’ vào nước giải khát hoặc sữa công thức và công bố rõ như L.Rhamnosus (GG), L.Casei, L.Reuteri. Các loại nước giải khát và sữa công thức có chứa probiotic được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, nhưng chỉ có B.Lactis là được kiểm định và đánh giá bởi FDA cho phép sử dụng trong sữa công thức thương mại cho trẻ sau sinh.

1.2.7. Hướng dẫn đánh giá probiotic được sử dụng trong thực phẩm (WHO)

Theo FAO/WHO để đánh giá thực phẩm có tác dụng probiotic thì phải tuân thủ các hướng dẫn sau [68]:

1. Xác định Chủng/loài/giống của probiotic: Việc xác định chủng, loài, giống được thực hiện bằng các xét nghiệm kiểu hình và kiểu gen.

2. Sàng lọc các probiotic tiềm năng In vitro. Cần thiết để đánh giá tính an toàn của probiotic và để tìm hiểu về probiotic và cơ chế tác dụng. Các test thường được sử dụng là khả năng đề kháng đối với acid dạ dày, acid mật, khả năng bám vào các tế bào niêm mạc ruột, hoạt động chống lại vi khuẩn gây bệnh tiềm năng, giảm khả năng bám dính lên bề mặt của vi khuẩn gây bệnh, hoạt động thủy phân muối mật, đề kháng với tinh trùng ( probiotic sử dụng ở âm đạo)

3.Tính an toàn: Phải có bằng chứng về tính an toàn và không gây ô nhiễm thực phẩm của probiotic

4. Được nghiên cứu trên động vật và trên người. Nghiên cứu đánh giá hiệu lực, hiệu quả trên người.

5. Nhãn mác trên thực phẩm: bao gồm chủng/loài/giống, số lượng vi khuẩn sống cuối thời hạn sử dụng, tác dụng, điều kiện bảo quản, địa chỉ liên lạc khi cần.

1.3. BỆNH TIÊU CHẢY

1.3.1. Dịch tễ học của bệnh tiêu chảy:

Mỗi năm, ước tính 2,5 triệu trường hợp tiêu chảy xảy ra ở trẻ em dưới năm tuổi, tỷ lệ mắc bệnh vẫn duy trì tương đối ổn định trong vòng hai thập kỉ qua. Trong đó, tình hình mắc bệnh trầm trọng nhất là ở châu Phi và Nam Á, nơi chiếm hơn nửa số người bị mắc trên toàn thế giới, cũng là nơi có tỷ lệ tử vong do tiêu chảy cao nhất, đặc biệt là ở trẻ em. Trẻ em dưới 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, đây cũng là thời kì trẻ được nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung cùng với sữa mẹ. Tỷ lệ này được giảm dần cùng với sự lớn lên của trẻ. Tỷ lệ tử vong do tiêu chảy đã giảm trong hai thập kỷ qua, từ 5 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở đầu thập niên trước xuống còn 1,87 triệu ca vào năm 2003 và 1,5 triệu ca năm 2004, cùng với xu hướng giảm chung của tỷ lệ tử vong ở trẻ em do tất cả các nguyên nhân. Trẻ em dưới 3 tuổi mắc tiêu chảy trung bình 3-4 đợt/năm. Tuy vậy, tiêu chảy vẫn là nguyên nhân đứng thứ hai gây ra tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi trên toàn cầu, sau viêm phổi [169]. 

Tại Việt nam, trẻ em bị tiêu chảy trung bình 2,2 lần/năm và là 22,0% nguyên nhân tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi [1]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Yến Bình, trong số 5 tác nhân gây tiêu chảy ở trẻ em thì Rotavirus chiếm tỷ lệ cao nhất (39,3%), tiếp theo là E.coli (21,0%), Shigella (6,7%), Campylobacter (6,0%) và ít gặp nhất là Salmonella (1,0%) [1].

1.3.2. Định nghĩa:

Bệnh tiêu chảy được định nghĩa là đại tiện phân lỏng bất thường (Phân lỏng, phân toé nước, phân có nhày máu, mũi...) từ 3 lần trở lên trong 24 giờ [3]. Phân lỏng là phân không thành khuôn, trừ những trẻ bú mẹ thường đi một ngày vài lần phân nhão. Đối với những trẻ này, xác định tiêu chảy thực tế phải dựa vào tăng số lần hay tăng mức độ lỏng của phân mà các bà mẹ cho là bất thường [3].

1.3.3. Phân loại bệnh tiêu chảy: Có 3 dạng lâm sàng chủ yếu của bệnh tiêu chảy cấp có thể ảnh hưởng đến tính mạng con người và đòi hỏi các phương pháp điều trị khác nhau.

1.3.3.1. Tiêu chảy cấp phân nước (bao gồm cả bệnh tả):

Là đợt tiêu chảy cấp, thời gian không quá 14 ngày, thường khoảng 5-7 ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy [3]. Tác nhân chính của bệnh là do V. cholerae hoặc vi khuẩn E. coli, cũng như rotavirus. Tiêu chảy phân lỏng gây mất nước và điện giải, bệnh nhân bị tử vong thường do kiệt sức vì mất nước và điện giải nặng. Những trẻ em bị suy dinh dưỡng hoặc có miễn dịch bị suy yếu có nhiều nguy cơ bị tử vong do tiêu chảy hơn những trẻ khỏe mạnh.

1.3.3.2. Tiêu chảy cấp phân máu (Hội chứng lỵ):

Đây là bệnh tiêu chảy có chung một hội chứng gọi là hội chứng lỵ, gồm: sốt, đau quặn bụng, mót rặn, phân thường có máu, chất nhày. Đặc biệt phân có rất nhiều bạch cầu, chủ yếu là bạch cầu đa nhân khi soi kính hiển vi. Chiếm khoảng 10-20% tổng số các trường hợp tiêu chảy.

Nguyên nhân chủ yếu là do Shigella, E.Coli xâm nhập (EIEC), Campylobacter jejuni [3]. Trẻ em bị hội chứng lỵ có nguy cơ cao bị nhiễm trùng máu, suy dinh dưỡng và gây mất nước. Lỵ là một nguyên nhân góp phần không nhỏ trong tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy. Lỵ đặc biệt nặng ở trẻ em suy dinh dưỡng và chính lỵ cũng gây nhiều hậu quả nguy hiểm đến tình trạng suy dinh dưỡng hơn là tiêu chảy cấp phân toé nước.

1.3.3.3. Tiêu chảy kéo dài:

Tiêu chảy kéo dài được xác định là một đợt tiêu chảy kéo dài tới 14 ngày hoặc lâu hơn, chiếm khoảng 5-10% tổng số các trường hợp tiêu chảy. Có tới 3-23% đợt tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài. Tỷ lệ này cao nhất ở trẻ từ 1-2 tuổi. Tiêu chảy kéo dài thường làm cho tình trạng dinh dưỡng kém đi nhanh và có tỷ lệ tử vong cao do nhiễm khuẩn nặng ngoài đường ruột và mất nước.

1.3.3.4. Tiêu chảy thẩm thấu:

Tiêu chảy thẩm thấu xảy ra khi quá nhiều nước được hút vào ruột. Điều này có thể là kết quả của rối loạn tiêu hóa (ví dụ, bệnh tuyến tụy  hoặc bệnh Coeliac), trong đó các chất dinh dưỡng được giữ lại trong lòng ruột và và hút theo nước. Tiêu chảy thẩm thấu cũng có thể do thuốc nhuận tràng thẩm thấu (tác dụng hút nước vào lòng ruột để làm giảm bớt táo bón). Ở người khỏe mạnh, nếu có quá  nhiều magie, vitamin C hoặc lactose không tiêu hóa được cũng có thể gây ra tiêu chảy thẩm thấu và chướng ruột. Ở người không dung nạp lactose thì khó hấp thụ được lactose sau khi sử dụng nhiều sản phẩm sữa. Ở người bị rối loạn hấp thu fructose việc sử dụng nhiều fructose cũng có thể gây tiêu chảy. Những thực phẩm có chứa nhiều fructose cũng thường có nhiều glucose thì dễ hấp thu hơn và ít gây tiêu chảy. Rượu đường như sorbitol (thường có trong các thực phẩm không đường) là khó hấp thu và khi sử dụng với số lượng lớn có thể dẫn đến tiêu chảy thẩm thấu. Tiêu chảy thẩm thấu sẽ hết khi ngừng sử dụng các thực phẩm gây tiêu chảy như sữa, sorbitol...[1].

Theo báo cáo của WHO, tiêu chảy kéo dài gây khoảng 35% tổng số các trường hợp tử vong và có 15% lượt tiêu chảy kéo dài dẫn tới tử vong. Không có loại vi khuẩn đơn thuần nào được xác định là nguyên nhân gây tiêu chảy kéo dài một cách rõ ràng, mặc dù SalmonellaE.coli bám dính vào niêm mạc ruột (EAEC) có thể đóng vai trò quan trọng ở trẻ em suy dinh dưỡng nặng hoặc suy giảm miễn dịch. Bất kể do nguyên nhân gì, tiêu chảy kéo dài thường kèm theo sự thay đổi nặng nề của niêm mạc ruột, đặc biệt sự teo dẹt của các nhung mao ruột và sự giảm sản xuất men disaccharidase. Những thay đổi trên làm giảm hấp thu các chất dinh dưỡng và có thể làm cho bệnh tồn tại mãi ngay cả khi nguyên nhân nhiễm trùng bị loại trừ.

1.3.4. Nguyên nhân bệnh tiêu chảy:

1.3.4.1. Nhiễm trùng:

a.Virus

  • Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa tính mạng cho trẻ dưới 2 tuổi. Trẻ lớn và người lớn ít bị tiêu chảy do Rotavirus. Rotavirus là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở khoảng 40% trẻ em dưới 5 tuổi phải nhập viện trên phạm vi toàn cầu .

  • Các virus khác có thể gây tiêu chảy là Adenovirus, Enterovirus, Norovirus

b.Vi khuẩn

  • E. Coli sinh độc tố ruột là tác nhân chính gây tiêu chảy phân nước ở trẻ em.

  • Các vi khuẩn E. coli, Shigella (gây hội chứng lỵ phân máu)

  • Campylobacter jejuni và Salmonella enterocolitica (gây bệnh ở trẻ nhỏ, tiêu chảy phân nước hoặc phân máu).

  • Vi khuẩn tả V. cholerae (gây tiêu chảy xuất tiết bằng độc tố tả, mất nước và mất điện giải nặng ở cả trẻ em và người lớn) [3].

c. Kí sinh trùng

  • Entamoeba histolytica (Amip): xâm nhập vào liên bào đại tràng, hồi tràng và gây bệnh khi ở thể hoạt động.

  • Giardia lamblia: là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non gây tiêu chả do giảm hấp thu.

  • Cryptosporidium: gây bệnh ở trẻ nhỏ, trẻ bị suy giảm miễn dịch. Gây tiêu chảy kéo dài ở trẻ SDD hoặc AIDS [3].

1.3.4.2. Các nguyên nhân khác:

Bệnh tiêu chảy cũng có thể lây lan từ người sang người, thường do vệ sinh cá nhân kém. Thức ăn được chế biến hoặc được bảo quản trong điều kiện không hợp vệ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây tiêu chảy. Nước có thể làm ô nhiễm thực phẩm trong quá trình nuôi trồng, tưới bón. Cá và hải sản từ nguồn nước ô nhiễm cũng có thể là nguyên nhân gây ra căn bệnh này. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như sai lầm của chế độ ăn, dị ứng thức ăn, sử dụng kháng sinh…

1.3.5. Các biện pháp phòng chống bệnh tiêu chảy

Để phòng ngừa bệnh tiêu chảy, giảm tỷ lệ tử vong do tiêu chảy ở trẻ em trên toàn thế giới, WHO đã thành lập Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy toàn cầu. Ngoài ra các Trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy quốc tế và quốc gia cũng được thành lập. Bộ Y tế Việt Nam đã thành lập “Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy quốc gia”, gồm hệ điều trị và hệ dự phòng.

Phòng chống bệnh tiêu chảy đã giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh một cách hữu hiệu.

Trong thời gian qua, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa ra các biện pháp giúp phòng chống bệnh tiêu chảy như sau: Khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung, bổ sung Fe, Zn, Vitamin A và các vi chất khác cho trẻ, sử dụng nước sạch,rửa tay thường quy,sử dụng thực phẩm an toàn,sử dụng hố xí và xử lí phân an toàn, phòng bệnh bằng vắc xin.

1.4. NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP TÍNH (ARI)

1.4.1. Dịch tễ học của ARI:

ARI là một căn bệnh phổ biến và gây ra tỷ lệ tử vong cao nhất cho trẻ em dưới 5 tuổi ở nhiều quốc gia. Người ta ước tính rằng hằng năm có khoảng 10,8 triệu trẻ em bị tử vong [43], trong đó 1,9 triệu trẻ em chết do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, châu Phi và Nam Á chiếm tới 70% [168], trong đó, viêm phổi là bệnh gây tử vong cao nhất ở trẻ em trong các loại bệnh, cao hơn AIDS, sốt rét và sởi cộng lại và có khoảng 1,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới bị tử vong do viêm phổi hằng năm, chiếm khoảng 18% tử vong (bao gồm tử vong trong tháng đầu sau sinh) trẻ em toàn cầu [167].

Nghiên cứu của chương trình ARI ở Việt Nam về tình hình ARI trên cộng đồng đã cho thấy, với một xã trung bình có khoảng 8000 dân, với khoảng 1000 trẻ dưới 5 tuổi, hàng năm có tới 1600-1800 lượt trẻ bị ARI. Trong số này có khoảng 400-450 lượt trẻ em bị viêm phổi cấp cần phải điều trị, với khoảng 40-50 lần viêm phổi nặng [4].

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập trên 398 trẻ em dưới 6 tuổi ở thành phố Huế cho thấy, trung bình có 89 trẻ em (chiếm tỷ lệ 22,36%) đã bị mắc ARI trong vòng 2 tuần qua [61]. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Cồ Việt ở 3 tỉnh Hà Nam, Đà Nẵng, Tây Ninh cũng cho kết quả về tỷ lệ mắc ARI là 22,8% [6]. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Viên cho thấy tỷ lệ mắc ARI cao hơn ở trẻ em: 54,90% ở trẻ 0-12 tháng, 33,28% ở trẻ 13-36 tháng và 11,28% ở trẻ 37-60 tháng [20].


1.4.2. Nguyên nhân gây ARI ở trẻ em

ARI được phân loại thành nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (URI) và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (LRIs). Đường hô hấp trên bao gồm từ lỗ mũi đến các dây thanh âm trong thanh quản, bao gồm cả các xoang cạnh mũi và tai giữa. Đường hô hấp dưới bao gồm sự tiếp nối của đường dẫn khí từ khí quản và phế quản, phế nang.

Nguyên nhân chính gây ARI ở trẻ em là virus và vi khuẩn. Người ta thấy rằng phần lớn ARI, đặc biệt là nhiễm khuẩn hô hấp trên thường là do virus, do phần lớn virus có ái lực với đường hô hấp, khả năng lây lan của virus dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virus cao, khả năng miễn dịch đối với virus yếu và ngắn [4]. Các nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy những loại virus thường gây ARI ở trẻ em được xếp loại theo thứ tự như sau: Virus hợp bào hô hấp (SRV), Influenzae Virus, Parainfluenzae Virus, Virus sởi, Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Cornavirus. Nhưng ở các nước đang phát triển, vi khuẩn lại là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em. Các loại vi khuẩn thường gặp gây ARI ở trẻ em được xếp theo thứ tự như sau: Haemophilus influenzae, Streptococus pneumoniae, Staphylococus aureus, Bordetella pertussis, Klebsiella pneumoniae, Clamydia trachomatis và các vi khuẩn khác.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu nguyên nhân gây ARI cũng cho kết quả tương tự. Hai loại vi khuẩn thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniaeHaemophilus influenza, các loại virus thường gặp nhất cũng là Virus hợp bào hô hấp, Virus á cúm, Virus cúm A.

1.4.2.1. Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính (URI):

Là bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất, bao gồm viêm mũi (cảm lạnh thông thường), viêm xoang, viêm ống tai ngoài, viêm tai giữa, viêm họng cấp tính… Các biến chứng gây ra bởi viêm tai hay viêm thanh quản thường rất nghiêm trọng như bị điếc và viêm thấp khớp cấp tính. Phần lớn nguyên nhân của URI là virus. Trong đó, nguyên nhân do Rhinoviruses chiếm tới 25- 30%; do các virus hợp bào (RSVs), parainfluenza, virus cúm, metapneumovirusadenovirus cộng lại chiếm 25- 35%; do corona virus chiếm 10%; còn lại là các loại virus khác [62].

1.4.2.2. Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới cấp tính:

Bệnh LRI cấp tính phổ biến ở trẻ em là viêm phổi, viêm phế quản và cúm. Nguyên nhân phổ biến nhất của LRI là do virus hợp bào hô hấp (SRV) và phụ thuộc theo mùa, virus parainfluenza, là nguyên nhân đứng thứ hai gây LRI.

1.4.3. Các yếu tố nguy cơ thường gặp gây ARI ở trẻ em

Có rất nhiều yếu tố khác nhau có thể gây bệnh ARI cho trẻ em. Các nguy cơ thường gặp nhất là: Không đảm bảo nuôi con bằng sữa mẹ, suy dinh dưỡng,thiếu vitamin A, Kẽm và các vi chất dinh dưỡng, trÎ ®Î non hoÆc cã c©n nÆng s¬ sinh thÊp, tiếp xúc với người đang mắc bệnh ARI, các yếu tố nguy cơ khác như ô nhiễm không khí, ô nhiễm không khí nội thất hoặc khí hậu lạnh cũng có liên quan rõ rệt tới bệnh viêm phổi cấp ở trẻ em.

1.4.4. Các giải pháp phòng chống bệnh ARI ở trẻ em

Các bệnh ARI ở trẻ em do nhiều nguyên nhân gây ra. Vì vậy muốn đề phòng bệnh ARI cho trẻ, cần có các biện pháp toàn diện như sau: Quản lí tốt quá trình mang thai của bà mẹ, đảm bảo trẻ sinh đủ tháng, cân nặng sơ sinh trên 2500 g,- tổ chức cuộc đẻ an toàn, nuôi con bằng sữa mẹ, phßng thiÕu vitamin A vµ kh« m¾t cho trÎ, bổ sung Fe, Zn và các vi chất khác,cho trÎ ¨n bæ sung hîp lý, nhµ cöa, nhµ trÎ, tr­êng häc cÇn s¹ch sÏ, th«ng tho¸ng, CÇn tËp luyÖn cho trÎ ®Ó trÎ cã søc ®Ò kh¸ng tèt, trÎ bÞ bÖnh ARI cÇn ®­a trÎ ®Õn c¬ së y tÕ ®Ó ®­îc kh¸m bÖnh, theo dâi vµ ®iÒu trÞ kÞp thêi, cÇn c¸ch li trÎ khái ng­êi bÞ bÖnh ARI, ®Ó gi¶m thiÓu l©y nhiÔm cho trÎ [4].

1.5. CÁC BIỆN PHÁP DINH DƯỠNG TRONG PHÒNG CHỐNG NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP VÀ TIÊU CHẢY CẤP Ở TRẺ EM

1.5.1. Nuôi con bằng sữa mẹ

1.5.1.1. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ hiện vẫn là vấn đề đang được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực dinh dưỡng cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh. Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một trong bốn biện pháp bảo vệ sức khoẻ trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ [2]. Trong thời gian 4-6 tháng đầu sau sinh, sữa mẹ là nguồn cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ, có tỷ lệ các chất dinh dưỡng cân đối và dễ hấp thu, đặc biệt là protein và vitamin A [11], [16]. Nuôi con bằng sữa mẹ giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng và làm giảm tử vong của trẻ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi mà điều kiện vệ sinh thực phẩm còn kém [39]. Thêm vào đó, sữa mẹ được xem là yếu tố khởi đầu, phát triển thành phần của vi khuẩn chí đường ruột [109]. Nhiều nghiên cứu cho rằng sữa mẹ có thể là nguồn vi khuẩn có lợi, nguồn vi khuẩn tiềm năng do có nhiều vi khuẩn được tìm thấy trong sữa mẹ như Staphylococci, Micrococci, Lactobacili và Enterococci [109]. Sữa mẹ chứa oligo- saccharides làm tăng sự phát triển của các loài vi khuẩn bifidobacteria, đây là loài vi khuẩn có mặt sớm nhất trong đường tiêu hoá [164] và sự có mặt của chúng trong đường tiêu hoá là tốt cho sức khoẻ của trẻ. Hệ vi sinh vật của trẻ được nuôi bằng sữa mẹ không những có nhiều vi khuẩn bifidobacteria mà còn chứa ít các vi khuẩn gây bệnh có hại so với trẻ bú sữa ngoài [149], điều này một phần nào giải thích tại sao tỷ lệ mới mắc của bệnh nhiễm khuẩn là thấp ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ. Do vậy, mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều có quyền được nuôi bằng sữa mẹ [55] và theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trẻ cần được bú sớm, bú ngay trong vòng nửa giờ đầu sau sinh.

1.5.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tập quán nuôi con bằng sữa mẹ như sự phát triển nhanh chóng của xã hội, quá trình công nghiệp hoá, sự sẵn có các sản phẩm thay thế sữa mẹ trên thị trường, quá trình đô thị hoá cùng với công việc của các bà mẹ ngày càng bận rộn hơn, sự xuất hiện của các bệnh dịch thế kỉ như HIV/AIDS cũng làm thay đổi bức tranh về tình hình nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là tại các đô thị. Kiến thức, thái độ của các bà mẹ về giá trị của sữa mẹ cũng đóng một vai trò quan trọng, sự lo ngại việc cho con bú sẽ làm ngực bị xấu đi, cho rằng sữa non là không tốt, chỉ có sữa ổn định là sữa tốt cho sức khoẻ của trẻ, một số còn cho rằng sữa non là bẩn và phải vứt bỏ đi [64], một lí do khác ảnh hưởng đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là do mẹ thiếu sữa [23], thiếu sữa khiến nhiều bà mẹ phải cai sữa cho con trước 6 tháng tuổi [2], việc thiếu sữa xảy ra phổ biến cho các bà mẹ ở thành phố do căng thẳng trong công việc, do phải đi làm sớm, số lần cho trẻ bú ít đi cũng là nguyên nhân gây thiếu sữa ở các bà mẹ [65].

1.5.1.3. Ảnh hưởng của nuôi con bằng sữa mẹ tới nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và hô hấp ở trẻ

Nghiên cứu của Victoria ở Brazil cho thấy, những trẻ không được bú mẹ mà phải ăn nhân tạo có tỷ lệ tử vong do tiêu chảy cao gấp 14,2 lần so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ [73]. Nghiên cứu của WHO cho thấy những đứa trẻ bắt đầu ăn bổ sung thêm sữa hộp ngay trong tuần đầu, có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 3 lần và nguy cơ nhập viện cao gấp 5 lần so với trẻ chỉ bú sữa mẹ, đối với trẻ cai sữa trong tuần đầu sau đẻ có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 5 lần và nguy cơ phải vào viện do tiêu chảy cao gấp 12 lần so với trẻ bình thường [165]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng và mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp ở trẻ em dưới 12 tháng tuổi cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm trẻ mà mẹ bị thiếu sữa [7]. Nghiên cứu của Nguyễn Công Khẩn cũng chỉ rõ, nhóm trẻ nhỏ không được bú mẹ có nguy cơ bị các biểu hiện lâm sàng khô mắt do thiếu vitamin A cao hơn ở nhóm chứng [9].

1.5.2. Bổ sung Vitamin A

1.5.2.1. Vai trò vitamin A

Vitamin A (Retinol) là một vi chất cần thiết nhằm duy trì hoạt động của con

người như thị lực, tăng trưởng, phát triển, duy trì tính toàn vẹn của các tế bào

biểu mô, chức năng miễn dịch và sinh sản.

1.5.2.2. Nhu cầu vitamin A

Nhu cầu Vitamin A ở trẻ em dưới 10 tuổi từ 325 - 400 mcg/ngày, trẻ vị thành niên và người trưởng thành từ 500 - 600 mcg/ngày. Nhu cầu tăng cao ở phụ nữ cho con bú, người mắc bệnh nhiễm trùng, kí sinh trùng và ở các giai đoạn hồi phục bệnh [2].

1.5.2.3. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của vitamin A tới nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và hô hấp ở trẻ.

Có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về hiệu quả việc bổ sung đa vi chất, trong đó có vitamin A, lên tình trạng nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và đường hô hấp ở trẻ. Các nghiên cứu này bổ sung vi chất đơn lẻ hoặc bổ sung đa vi chất.

Nghiên cứu hiệu quả bổ sung vitamin A liều cao của Hà Huy Khôi và cộng sự năm 1990 cho thấy việc bổ sung vitamin A làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp, nhất là ở trẻ bị suy dinh dưỡng [10]. Một nghiên cứu khác của Hoàng Kim Thanh cũng cho kết quả tương tự [17].

Người ta ước tính rằng nguy cơ tương đối liên quan giữa thiếu vitamin A và tử vong do tiêu chảy là 2,15 (95% CI 1,83–2,58), do sốt rét là 1,78 (95% CI 1,43–2,19) và do các dịch bệnh khác là 1,13 (95% CI 1,01–1,32). Các bằng chứng khác cũng cho thấy hằng năm có khoảng 800.000 trường hợp tử vong ở trẻ em và bà mẹ trên thế giới là do thiếu vitamin A và khoảng 20-24% tử vong là do sởi, tiêu chảy và sốt rét. Nghiên cứu của Shankar cho thấy cả vitamin A và kẽm đều có chức năng duy trì miễn dịch của cơ thể [146]. Kết quả của 8 nghiên cứu can thiệp bổ sung vitamin A tại châu Á và châu Phi cho trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi cho thấy tỷ lệ tử vong giảm một cách có ý nghĩa [80]. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy việc bổ sung vitamin A cho trẻ ngay sau đẻ cũng làm giảm tỷ lệ tử vong [91]. Một số nghiên cứu thực nghiệm trên động vật và nghiên cứu lâm sàng trên người đều cho rằng thiếu vitamin A có thể làm cho trẻ dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp

cấp hơn [44].

1.5.3. Bổ sung Kẽm

1.5.3.1. Vai trò của kẽm

Kẽm là một vi chất dinh dưỡng quan trọng có trong tất cả các cơ quan của cơ thể, các mô và dịch cơ thể, là vi lượng nhiều sau sắt, làm trung gian cho một loạt các chức năng sinh lý. Đó là một thành phần cần thiết của nhiều protein, bao gồm những protein quan trọng trong nhân bản DNA và phân chia tế bào, kẽm giúp duy trì tính toàn vẹn của miễn dịch [146], chủ yếu là miễn dịch tế bào [48], [120], và hoạt động chống oxy hóa. Do vai trò của kẽm trong việc duy trì tính toàn vẹn của tế bào và hệ miễn dịch, kẽm có một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng. Kẽm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể. Ảnh hưởng của kẽm lên tiêu chảy có thể liên quan đến vai trò của kẽm trong vận chuyển nước, chất điện giải, tính thẩm thấu của ruột [128], vai trò enzyme của enterocyte [77], tăng khả năng hồi phục các mô đường ruột [27], tăng miễn dịch tại chổ nhằm ngăn sự phát triển và tiêu diệt vi khuẩn có hại [146].

Mặc dù với những chức năng quan trọng đối với cơ thể, nhưng kẽm không dự trữ trong cơ thể mà đòi hỏi phải được cung cấp thường xuyên qua khẩu phần ăn. 1.5.3.2. Nhu cầu kẽm ở trẻ em:

- Tổng lượng kẽm ở trẻ sơ sinh khoảng 60mg, trong quá trình lớn và phát triển, nông độ kẽm trong cơ thể tăng dần.

- Để tính nhu cầu kẽm ở trẻ em, có thể dựa vào lượng kẽm mất hàng ngày (khoảng 0,064 mg/kg cân nặng với trẻ 6 - 11 tháng tuổi; 0,034 mg/kg cân nặng với trẻ lớn hơn) và lượng kẽm cần cho tăng trưởng (khoảng 0,02 mg/g trọng lượng cơ thể tăng thêm).

1.5.3.3. Sử sụng kẽm trong điều trị tiêu chảy ở trẻ em:

Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị liều hằng ngày trong điều trị tiêu chảy ở trẻ

em là 20 mg kẽm trong vòng 14 ngày ( riêng đối với trẻ < 6 tháng tuổi là 10 mg/ngày) kết hợp với ORS có hàm lượng glucose và muối thấp [166].

1.5.3.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của kẽm tới nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu chảy cấp ở trẻ em

Các nghiên cứu về tác động của kẽm lên tình trạng bệnh tật cho các kết quả khác nhau. Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm không có tác dụng làm giảm tỷ lệ mắc, thời gian bị tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp [129]. Một nghiên cứu khác trên trẻ 6 tháng tuổi với việc bổ sung sắt, kẽm, sắt kẽm phối hợp hoặc đa vi chất cho thấy ở nhóm trẻ được bổ sung sắt, kẽm hoặc sắt kẽm phối hợp đều có xu hướng giảm nguy cơ mắc tiêu chảy và viêm đường hô hấp cấp. Bổ sung sắt, kẽm đồng thời làm giảm 40% nguy cơ mắc viêm đường hô hấp cấp ở những trẻ có tình trạng dinh dưỡng kém [32]. Phân tích kết quả của 10 nghiên cứu bổ sung kẽm cho trẻ dưới 5 tuổi cho thấy ở nhóm trẻ được bổ sung kẽm thì tỷ lệ mắc và mắc mới của cả tiêu chảy và viêm phổi đều giảm đi đáng kể. Một số nghiên cứu khác thì cho thấy việc bổ sung kẽm làm giảm tỷ lệ cũng như mức độ nặng nhẹ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp [38].

Có nhiều nghiên cứu về tác động của kẽm lên tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở các nước đang phát triển. Nhìn chung các kết quả đều cho thấy việc bổ sung kẽm có tác dụng trong trong phòng ngừa và điều trị tiêu chảy như: giảm tỷ lệ tiêu chảy, giảm thời gian kéo dài tiêu chảy, giảm số lần đi phân lỏng, giảm nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ [65], [129]. Bên cạnh đó các nghiên cứu khác cũng cho thấy kẽm cũng có tác dụng trong việc điều trị và phòng ngừa như làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ARI, trẻ có hàm lượng kẽm thấp thì tỷ lệ mắc các bệnh ARI cao hơn so với trẻ bình thường. Trẻ được bổ sung kẽm giảm số lần sốt, hạ sốt nhanh hơn, giảm số lần ho, giảm tỷ lệ mắc mới viêm phổi [32], [38].

Ở Việt Nam một nghiên cứu bổ sung 10mg kẽm/ngày cho thấy có tác dụng rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ tiêu chảy và viêm đường hô hấp [117]. Một nghiên cứu khác trên trẻ từ 3-48 tháng tuổi với việc bổ sung 10mg kẽm/ngày cho thấy, sau 3 tháng can thiệp tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp ở nhóm trẻ được bổ sung kẽm giảm hẳn so với trẻ nhóm chứng [5].

1.5.3.5. Tình trạng kẽm trong nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và hô hấp.

Trẻ bị tiêu chảy cấp và kéo dài thường có hàm lượng kẽm trong huyết thanh thấp [40], [49] và hàm lượng kẽm có mối liên quan với thời gian kéo dài của từng đợt tiêu chảy [134]. Tuy nhiên, thật khó để phân biệt là hàm lượng kẽm thấp trước khi tiêu chảy xảy ra và làm cho trẻ dễ mắc bệnh, hay là do kết quả việc mất kẽm và phân bố lại trong thời gian bị tiêu chảy cấp. Các nghiên cứu cũng thấy rằng hàm lượng kẽm thay đổi nhanh trong thời gian tiêu chảy cấp. Kết quả của nhiều nghiên cứu trên trẻ bình thường và trẻ suy dinh dưỡng cho thấy hàm lượng kẽm thấp có mối liên quan với tỷ lệ mắc mới cao và mức độ nặng hơn của tiêu chảy ở những tháng tiếp theo [29]. Một nghiên cứu khác cho thấy việc bổ sung kẽm trong điều trị tiêu chảy làm tăng hàm lượng kẽm huyết thanh và giúp trẻ duy trì hàm lượng kẽm đầy đủ trong giai đoạn phục hồi [21].

Một nghiên cứu khác lại cho thấy, trẻ khỏe mạnh có hàm lượng kẽm thấp khi bắt

đầu nghiên cứu có tỷ lệ mắc mới nhiễm khuẩn hô hấp cấp cao hơn trong những tháng tiếp theo của nghiên cứu so với những trẻ khi bắt đầu nghiên cứu có hàm lượng kẽm bình thường [29]. Một nghiên cứu khác cho thấy trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp thấp cấp (viêm phổi) có hàm lượng kẽm huyết thanh và hàm lượng kẽm ở tóc thấp hơn một cách có ý nghĩa so với trẻ bình thường không bị bệnh [112].

1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

Похожие:

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic icon3. Chủ đề và chuẩn đầu ra của học phần

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconArt. 2º Este Decreto entra em vigor na data de sua publicação

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconCemitério São Francisco de Paula, Pelotas-rs: uma análise da relação entre sua infra-estrutura e os impactos na saúde da população do entorno

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPrologo Piccolo sulla sua piccola terra, l'uomo contempla l'universo del quale è a un tempo giudice e vittima W. H. Auden X ii termine universo nella

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconB Pre-requisites for the course

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-requisites: 74% or better

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconProtein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống, về mặt số lượng, protein chiếm không dưới 50% trọng lượng khô của tế bào; về thành

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconEnglish one Pre ap period 2

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre requisites / Recommended

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-Session Events: 8: 00 am to 12: 00 pm

Разместите кнопку на своём сайте:
Библиотека


База данных защищена авторским правом ©lib.znate.ru 2014
обратиться к администрации
Библиотека
Главная страница