Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic




НазваниеẢnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic
страница3/17
Дата11.10.2012
Размер1.05 Mb.
ТипДокументы
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17
1.1.5.4. Phòng ngừa dị ứng

Vi khuẩn chí cũng tham gia vào việc ngăn ngừa dị ứng [41], một phản ứng quá mức của hệ miễn dịch đối với các kháng nguyên lành tính. Nhiều nghiên cứu về hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cho thấy thành phần vi khuẩn đường ruột của trẻ bị dị ứng và trẻ không bị dị ứng là khác nhau, những trẻ bị dị ứng có số lượng các loại vi khuẩn có hại như C.difficileS.aureus nhiều hơn và có ít BacteroidesBifidobacteria [41]. Điều này được giải thích là do các vi khuẩn có ích kích thích, làm cho hệ miễn dịch phản ứng một cách hợp lí đối với các kháng nguyên và việc thiếu các vi khuẩn này làm cho hệ miễn dịch phản ứng quá mức đối với các kháng nguyên. Ở khía cạnh khác, sự khác nhau về vi khuẩn đường ruột có thể chỉ là kết quả chứ không phải nguyên nhân gây ra dị ứng [41].

1.1.5.5. Phòng ngừa các bệnh viêm ruột

Một vài tác giả cho rằng các acid béo mạch ngắn (SCFAs) do vi khuẩn chí sinh ra giúp phòng ngừa các bệnh viêm ruột ở trẻ nhỏ [84]. Tần suất mắc mới và tỷ lệ mắc bệnh IBD cao hơn ở các nước công nghiệp phát triển so với các nước có nền kinh tế kém hơn, bệnh cũng có liên quan đến việc vệ sinh tốt khi còn trẻ, không nuôi con bằng sữa mẹ, tiêu thụ nhiều đường và mỡ động vật [84] và tần suất mắc mới tỷ lệ nghịch với vệ sinh kém trong năm đầu của cuộc đời, tiêu thụ rau quả và các thức ăn chưa được chế biến [84]. Việc sử dụng kháng sinh giết chết các vi khuẩn có lợi, cũng như vi khuẩn có hại cũng có mối liên quan với IBD. Mặt khác việc sử dụng probiotic mang lại lợi ích cho sức khoẻ, giúp điều trị IBD.

1.1.5.6. Hệ vi khuẩn chí đường ruột với các bệnh khác

Bên cạnh việc có lợi cho sức khoẻ, vi khuẩn đường tiêu hoá cũng có thể có hại cho cơ thể. Chúng có thể sản xuất độc tố và carcinogen [155] liên quan đến các bệnh nhiễm trùng máu, ung thư ruột kết và IBD [143]. Do vậy, điều quan trọng đối với sức khoẻ là phải cân bằng số lượng vi khuẩn, quá nhiều hoặc quá ít đều không có lợi cho sức khoẻ. Có thể dùng enzyme để điều hoà sự cân bằng này [155].

1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột

1.1.6.1. Độ pH của đường ruột

Độ pH đóng vai trò quan trọng cho hoạt động của ruột. Độ pH của dạ dày là rất thấp, chỉ khoảng 2-4, điều này quan trọng cho quá trình tiêu hoá và tiêu diệt các vi khuẩn có hại. Độ pH tăng dần từ dạ dày đến ruột già. Vi khuẩn sản sinh acid lactic ưa môi trường acid, trong khi đó vi khuẩn gây thối lại ưa thích môi trường kiềm. Do vậy, có một sự cạnh tranh giữa các vi khuẩn lên men và vi khuẩn gây thối. Vi khuẩn lên men sản xuất ra acid hữu cơ để duy trì độ pH thấp, tạo môi trường thuận lợi cho chúng phát triển và hoạt động, trong khi đó các vi khuẩn gây thối sản xuất amoniac để tăng độ pH, tạo môi trường thuận lợi cho chúng phát triển và hoạt động. Nếu độ pH tăng thì các vi khuẩn gây thối và các dạng gây bệnh của candida có cơ hội phát triển và ức chế các vi khuẩn tạo acid lactic. Điều này có thể gây ra hàng loạt các tổn thương ở ruột. Việc bổ sung probiotic và prebiotic giúp phục hồi độ pH và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có lợi.



Hình 2. Độ pH và sự phân bố vi khuẩn trong hệ tiêu hóa

1.1.6.2. Tác dụng của kháng sinh

Việc sử dụng các kháng sinh phổ rộng làm thay đổi số lượng các vi khuẩn có ích có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và khả năng tiêu hoá thức ăn [46]. Thuốc kháng sinh có thể gây ra tiêu chảy do kích thích trực tiếp lên ruột, thay đổi số lượng vi khuẩn đường ruột hoặc cho phép vi khuẩn có hại phát triển, làm tăng sức đề kháng của vi khuẩn và khó điều trị khi mắc bệnh lần sau [46]. Việc thay đổi số lượng và số loài vi khuẩn chí có thể làm giảm khả năng lên men carbohydrate, chuyển hóa các acid mật và có thể gây ra tiêu chảy. Carbohydrate không được tiêu hoá sẽ hấp thu nhiều nước, làm lỏng phân hoặc việc thiếu các acid béo mạch ngắn có thể gây tiêu chảy [34]. Ngoài ra, việc giảm số lượng các vi khuẩn có ích làm giảm khả năng khống chế sự phát triển của các loài vi khuẩn có hại như C. difficileSalmonella kedougou. Thành phần vi khuẩn đường ruột cũng có thể thay đổi khi bị bệnh nặng, do sử dụng kháng sinh, chán ăn...

1.1.6.3. Probiotic & Prebiotic

Do việc thiếu vi khuẩn trong đường tiêu hoá có thể gây ra tác hại đối với sức khoẻ nên việc sử dụng probiotic có tác dụng chống viêm và có thể nâng cao sức khoẻ. Prebiotic là thành phần của thức ăn có thể hỗ trợ sự phát triển vi khuẩn đường ruột và cải thiện sức khoẻ [84].

1.1.6.4. Bệnh tật

Tác động của vi khuẩn chí lên miễn dịch đường ruột đã rõ, điều này cho thấy sự thay đổi vi khuẩn đường ruột có liên quan đến các trạng thái do sự thay đổi các đáp ứng miễn dịch. Ví dụ như việc tăng BacteroidesClostridia trong phân và giảm Bifidobacteria không điển hình ở những trẻ bị bệnh dị ứng so với trẻ bình thường [42]. Sự thay đổi vi khuẩn chí đường ruột và các loài không phải là Bifidobacteria chiếm ứu thế là cơ sở cho việc can thiệp bằng probiotic nhằm giảm thiểu các bệnh như bệnh viêm ruột kết hoại tử (NEC) [108]. Đối với bệnh nhân mắc bệnh viêm ruột thì việc giảm số lượng BifidobacteriaLactobacilli và tăng số lượng các vi khuẩn khác như Bacteroides có liên quan đến sự xuất hiện và mức độ nặng nhẹ của bệnh [60].

Những thay đổi “cân bằng” vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là trong các bệnh liên quan đến viêm và miễn dịch do ít vi khuẩn đi theo đường ăn uống hoặc ít phơi nhiễm đã đưa đến “giả thuyết sạch”. Giả thuyết này cho rằng ít phơi nhiễm đối với vi khuẩn và các kháng thể trong thời thơ ấu ở các nước công nghiệp dẫn đến sự phát triển không đầy đủ các đáp ứng miễn dịch, tăng nguy cơ bùng phát các bệnh hen và dị ứng [164]. Càng ngày người ta càng thừa nhận rằng mối tương tác giữa cơ thể và vi khuẩn có ảnh hưởng lên bệnh phản ứng đặc dị. Trẻ sinh ra có hoạt động tế bào lympho Th2 vượt trội, làm cho chúng có phản ứng mạnh đối với các dị nguyên và tăng sản xuất IgE. Ở một khía cạnh khác, việc phơi nhiễm với vi khuẩn đường ruột kích thích hoạt động của Th1 và kết quả là vi khuẩn đường ruột (sẵn có trong ruột hoặc bổ sung) có thể cân bằng miễn dịch từ trạng thái vượt trội của Th2 sang đáp ứng cân bằng Th1/Th2 và giảm cơ hội cho các phản ứng dị ứng mạnh. Cuối cùng thì các tế bào TReg giải phóng cytokine như TGF-â giúp ức chế phản ứng của Th1 hoặc Th2 và cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng đáp ứng của cơ thể đối với vi khuẩn hoặc kháng nguyên trong thực phẩm và hoạt động của tế bào này cũng tăng theo số lượng vi khuẩn trong ruột. Mối tương tác giữa vi khuẩn và đường ruột và tác động của chúng lên các đáp ứng miễn dịch là cơ sở cho việc sử dụng probiotic trong Nhi khoa.

1.2. PROBIOTIC, PREBIOTIC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2.1. Probiotic

Theo Tổ chức Y tế thế giới thì Probiotic được định nghĩa là các vi khuẩn có lợi cho sức khoẻ của con người khi ăn (bổ sung) vào một lượng nhất định [70]. LAB bifidobacteria là các loại vi khuẩn phổ biến được sử dụng như “probiotic”. Probiotic được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm sữa như sữa chua, đậu tương lên men và các sản phẩm bổ sung. Bắt đầu từ thế kỷ 20 người ta mới cho rằng probiotic có lợi cho cơ thể trong việc cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đường ruột, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại và các vi khuẩn sản sinh độc tố.

Một số đặc tính của probiotic [70]:

  • Là một vi khuẩn có nguồn gốc từ người và không gây bệnh

  • Vẫn sống và ổn định sau khi cấy, xử lí và đề kháng các kỹ thuật xử lí

  • Đề kháng dưới tác động của dịch dạ dày, mật và dịch tụy

  • Có khả năng bám vào tế bào niêm mạc ruột, có khả năng sinh sản và tạo nên các hiệu ứng lâm sàng hoặc chức năng có lợi cho cơ thể người sử dụng

1.2.1.1. Đặc điểm của vi khuẩn Bifidobacterium

Bifidobacteria tồn tại ở trẻ ngay từ những ngày đầu sau sinh, đặc biệt là trẻ được bú mẹ. Bifidobacteria lần đầu tiên được phân lập từ phân của trẻ được bú mẹ, số lượng các vi khuẩn này là tương đối ổn định và giảm đi khi lớn tuổi. Quần thể vi khuẩn bifidobacteria chịu ảnh hưởng của các yếu tố như khẩu phần ăn, thuốc kháng sinh và sự căng thẳng. Bifidobacteria là vi khuẩn kị khí gram (-), không chuyển động, không tạo bào tử catalase-âm tính, hình dạng của chúng khác nhau. Tên gọi của vi khuẩn này xuất phát từ việc chúng thường tồn tại ở dạng hình chữ Y hay dạng chẻ đôi. Thành phần guanine và cytosine của DNA là trong khoảng 54 mol% và 67 mol%. Chúng tạo ra acid acetic và acid lactic mà không tạo ra CO2. Chúng cũng được phân loại là vi khuẩn tạo acid lactic (LAB). Hiện nay có khoảng 30 loài bifidobacteria được phân lập. Bifidobacteria được sử dụng như probiotic là: Bifidobacterium adolescentis, Bifidobacterium bifidum, Bifidobacterium animalis, Bifidobacterium thermophilum, Bifidobacterium breve, Bifidobacterium longum, Bifidobacterium infantis and Bifidobacterium lactis. Các chủng của Bifidobacteria được dùng như probiotic là Bifidobacterium breve strain Yakult, Bifidobacterium breve RO7O, Bifidobacterium lactis BB12, Bifidobacterium longum RO23, Bifidobacterium bifidum RO71, Bifidobacterium infantis RO33, Bifidobacterium longum BB536 and Bifidobacterium longum SBT-2928.

1.2.1.2. Đặc điểm của vi khuẩn Lactobacillus

Lactobacilli có mặt trong ruột và trong âm đạo là vi khuẩn kị khí gram (+), không tạo bào tử. Thành phần guanine và cytosine của DNA là trong khoảng 32 mol% và 51 mol%. Chúng cũng được phân loại như là vi khuẩn tạo acid lactic (LAB). Hiện nay có khoảng 56 loài Lactobacillus được phân lập. Lactobacilli được sử dụng như probiotic bao gồm Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus brevis, Lactobacillus bulgaricus, Lactobacillus casei, Lactobacillus cellobiosus, Lactobacillus crispatus, Lactobacillus curvatus, Lactobacillus fermentum, Lactobacillus GG (Lactobacillus rhamnosus or Lactobacillus casei subspecies rhamnosus), Lactobacillus gasseri, Lactobacillus johnsonii, Lactobacillus plantarum Lactobacillus salivarus. Lactobacillus plantarum 299v strain có nguồn gốc từ bột chua. Lactobacillus plantarum có nguồn gốc từ người. Các chủng khác của LactobacillusLactobacillus acidophilus BG2FO4, Lactobacillus acidophilus INT-9, Lactobacillus plantarum ST31, Lactobacillus reuteri, Lactobacillus johnsonii LA1, Lactobacillus acidophilus NCFB 1748, Lactobacillus casei Shirota, Lactobacillus acidophilus NCFM, Lactobacillus acidophilus DDS-1, Lactobacillus delbrueckii subspecies delbrueckii, Lactobacillus delbrueckii subspecies bulgaricus type 2038, Lactobacillus acidophilus SBT-2062, Lactobacillus brevis, Lactobacillus salivarius UCC 118 và Lactobacillus paracasei subsp paracasei F19.

1.2.2. Prebiotic

1.2.2.1. Khái niệm

Prebiotic là thành phần thực phẩm không tiêu hóa được, có ảnh hưởng tích cực tới cơ thể vật chủ bằng cách kích thích có chọn lọc lên sự phát triển và tăng cường hoạt động của một số loài vi sinh vật có lợi trong ruột và nâng cao sức khỏe của cơ thể (vật chủ) [78]. Oligosaccharides trong sữa mẹ được xem như là prebiotic vì nó hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn BifidobacteriaLactobacilli trong ruột già của những trẻ bú mẹ hoàn toàn [81]. Các prebiotic thường được sử dụng là FOS,GOS và Inulin. Người ta thường kết hợp probiotic với prebiotic (được gọi là synbiotic) để tăng tác dụng có ích của probiotic đối với cơ thể.

Fructo- oligosaccharid (FOS) có các phân tử đường trong cấu trúc nên chúng có vị ngọt. FOS có khả năng chống chịu và không bị tiêu hóa trong dạ dày do đó có khả năng kích thích sự phát triển của chủng BifidobacteriaLactobacilli ở ruột già. FOS làm tăng hấp thụ Calci và Magie đồng thời làm giảm triglycerid. GOS (Galacto- oligosaccharit) là một prebiotic được sử dụng rộng rãi vì có khả năng kích thích hoạt động của các vi khuẩn có lợi trong hệ tiêu hóa, kích thích việc sản xuất các acid béo mạch ngắn, làm tăng khả năng hấp thu Calci và Magie.

1.2.2.2. Chức năng của prebiotic

Chức năng chủ yếu của prebiotic là kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi, khả năng chống ung thư, tăng khả năng hấp thu Calci, Magie, kích thích sự phát triển của BifidobacteriaLactobacilli, các loài vi khuẩn này kích thích sự gia tăng các kháng thể IgA, IgM, IgG [130], đồng thời cũng tạo ra chất kháng khuẩn như acid lactic, bacterioxin, H2O2 và có khả năng giảm triglycerid, cholesterol, tác dụng tích cực đối với lượng glucose trong máu [94]. Các oligosaccharid có thể kéo dài thời gian tiêu hóa trong dạ dày và rút ngắn thời gian trung chuyển qua ruột già nhờ các acid béo mạch ngắn [106]. Các prebiotic có thể mô phỏng các thụ thể ở ruột và do vậy các vi khuẩn gây hại sẽ liên kết với prebiotic thay vì niêm mạc ruột. Điều này giải thích tại sao trẻ bú mẹ ít bị tiêu chảy hơn so với trẻ bú sữa công thức.

Một vài nghiên cứu đã chứng minh tác dụng có lợi của GOS và FOS lên các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa với việc sử dụng hỗn hợp GOS/FOS với tỷ lệ 90% và 10% kết hợp với probiotic [132].

Liều prebiotic 5g/ngày ( trong một số trường hợp lên đến 8g/ngày) được sử dụng và có ảnh hưởng lên vi khuẩn chí đường ruột. Tác dụng phụ của prebiotic có thể gây ra do tăng vi khuẩn tạo khí gas, nhưng các loài Bifidobacteria và Lactobacilli không sinh gas trong quá trình chuyển hóa và do vậy người ta cho rằng thậm chí đến 20g/ ngày cũng không gây chướng bụng. Nếu tiêu thụ một lượng lớn (>20g) inulin mỗi ngày có thể ảnh hưởng đến cân bằng nước và gây ra nhuận tràng. Những người tham gia thử nghiệm sử dụng prebiotic đi vệ sinh thường xuyên hơn và phân nhiều hơn.

1.2.3. Tác động của probiotic trên hệ vi khuẩn chí đường ruột

Bifidobacteria và Lactobacillii được đưa vào cơ thể qua đường ăn uống có thể sống tạm thời trong ruột của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Một số nghiên cứu cho thấy có sự tăng lên rõ rệt số lượng Bifidobacteria ở trong phân một tuần sau khi được bổ sung. Trong một số trường hợp thì số lượng này đạt mức như ở trẻ được bú mẹ [98], [102]. Việc bổ sung Bifidobacteria đối với trẻ đẻ non đã thay đổi tích cực thành phần vi khuẩn chí đường ruột của trẻ [114], tăng acid béo mạch ngắn, giảm độ pH của phân, giảm amoniac và idol trong phân, giảm Bacteroides E.Coli [98]. Mỗi probiotic cụ thể sẽ làm thay đổi tỷ lệ vi khuẩn có lợi và không

có lợi ở trẻ và dẫn đến những thay đổi tích cực ở môi trường màng nhày của ruột.

1.2.4. Vai trò của probiotic với chức năng rào cản và miễn dịch 

Có nhiều nghiên cứu cho thấy tác động của việc bổ sung một số probiotic lên chức năng rào cản và miễn dịch của cơ thể. Các nghiên cứu trên người và động vật cho thấy việc bổ sung L.Casei, L.BulgaricusL.Acidophilus kích thích tăng sản đại thực bào và tăng thực bào, sCD14 cao hơn một cách có ý nghĩa ở những trẻ được bổ sung probiotic so với trẻ nhóm chứng và giảm sự thẩm thấu của ruột

khi bổ sung Lactobacilli [85] và ở những trẻ đẻ non được bổ sung Bifidobacteria.

Ở người trưởng thành khi sử dụng L.Acidophilus La1 và Bifidobacteria làm tăng IgA đặc hiệu và tổng thể đối với Salmonella sau khi cho uống S.typhi. Các probiotic này cũng như B.Lactics làm tăng hoạt động thực bào chống lại E.Coli, tăng khả năng tiêu diệt tế bào [50]. Ngoài ra trong nhi khoa một số chủng BifidobacteriaLactobacilli có tác động lên miễn dịch dịch thể, đặc biệt là tăng bài tiết IgA và các immunoglobulin khác. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy các tế bào sản sinh IgA, IgM, IgG cũng như IgA trong phân cũng tăng lên [124]. Tương tự như vậy việc tăng IgA đặc hiệu đối với Rotavirus sau khi bị nhiễm trùng, hoặc các IgA chống bại liệt sau khi được tiêm chủng cũng được chứng minh [74]. Các kết quả nghiên cứu đây cũng cho thấy các IgA trên cũng tăng lên sau khi trẻ được bổ sung B.Lactics [113]. Thêm vào đó một vài probiotic có tác dụng tốt lên việc bài tiết cytokin [74], giảm anti-trypcin trong phân, eosynophyl protein X trong nước tiểu, TNF-á [92] làm thay đổi TGF- beta và Cytokin khác làm giảm các chất xúc tác gây viêm đặc biệt là ở những trẻ có đáp ứng miễn dịch mạnh như trong phản ứng đặc dị (atopy).

Như vậy có nhiều bằng chứng cho thấy tác động của việc sử dụng probiotic lên

chức năng rào cản và đáp ứng miễn dịch của cơ thể bao gồm miễn dịch không đặc hiệu (miễn dịch tự nhiên) và miễn dịch đặc hiệu (miễn dịch thu được). Miễn dịch đặc hiệu tốt cần thiết cho việc bảo vệ cơ thể, giảm cơ hội cho các phản ứng

quá mẫn hay viêm.

Một số nghiên cứu đã chứng minh tác dụng của việc sử dụng probiotic lên hệ miễn dịch:

- Tác dụng lên miễn dịch không đặc hiệu :

  • Tăng sản suất mucin

  • Cạnh tranh và ức chế sự phát triển của vi khuản gây bệnh

  • Giảm tính thẩm thấu của ruột

  • Tăng hoạt động tiêu diệt tế bào tự nhiên, đại thực bào, thực bào

- Tác dụng lên miễn dịch đặc hiệu :

  • Tăng các tế bào sản sinh IgA, IgG, IgM

  • Tăng IgA tổng thể và đặc hiệu trong huyết thanh và thành ruột

  • Thay đổi các đáp ứng viêm

1.2.5. Tổng hợp nghiên cứu lâm sàng về probiotic ở trẻ nhỏ

1.2.5.1. Probiotic trong điều trị tiêu chảy cấp

Có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng probiotic trong điều trị tiêu chảy. Phần lớn các nghiên cứu sử dụng các loài Lactobacilli, L.Rhamnosus (GG). Phân tích tổng hợp của 4 nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng L.Rhamnosus (GG) có hiệu quả khi bổ sung sớm trong điều trị tiêu chảy do rotavirus và tác dụng chính là làm giảm thời gian kéo dài của tiêu chảy từ 1/2 đến 1,5 ngày [152]. Một số nghiên cứu với các ý nghĩa thống kê khác nhau đã chỉ ra rằng việc sử dụng Bifidobacteria, chủ yếu là B.Lactis [53], Lactobacilli, chủ yếu là L.Rhamnosus (GG) [151] làm giảm tần suất mắc mới và mức độ nặng của tiêu chảy cấp. Tuy nhiên sự khác biệt không phải lúc nào cũng có ý nghĩa thống kê [110]. Thêm vào đó việc sử dụng L.Rhamnosus (GG) và L.Reuteri [127] trong điều trị và sử dụng B.Lactis [131] trong dự phòng cho thấy có việc giảm Rotavirus. Phân tích 34 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng gần đây nhằm đánh giá hiệu lực của probiotic trong phòng ngừa tiêu chảy cấp. Probiotic làm giảm một cách có ý nghĩa nguy cơ mắc tiêu chảy khoảng 57% (IC: 35-71%) ở trẻ em. Tác dụng bảo vệ thay đổi tùy theo việc sử dụng các loài probiotic bao gồm B.Lactis, L.Rhamnosus (GG), L.Acidophillus, S.Boulardii và các probiotic khác khi sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp các probiotic khác nhau. Thời gian nằm viện và nhập viện giảm. Các nghiên cứu đều cho thấy tác động của probiotic lên triệu chứng và lên quá trình tiến triển bệnh. Các quan sát này là luận cứ cho việc tìm ra phương thức sử dụng probiotic lâu dài và cho việc phòng bệnh nhất là ở trẻ nhỏ.

Kết luận của một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên, mù kép trên trẻ 5-29 tháng tuổi cho thấy sữa lên men bởi CRL-431Lactobacillus acidophilus có thể được sử dụng trong phòng ngừa và điều trị bệnh tiêu chảy ở trẻ. Liều sử dụng hằng ngày là 0,15-1,109 CFU. Một nghiên cứu khác can thiệp, ngẫu nhiên, mù kép trên trẻ từ 6 - 24 tháng tuổi được bổ sung CRL 431 hoặc CRL 730S.boulardii vào sữa bò cho thấy cả 2 loại probiotic làm giảm một cách có ý nghĩa số lần đại tiện, thời gian kéo dài của tiêu chảy, giảm số lần nôn của trẻ.

1.2.5.2. Probiotic trong điều trị tiêu chảy liên quan đến kháng sinh

Nhiều probiotic có giá trị trong việc giảm thiểu nguy cơ tiêu chảy liên quan đến kháng sinh ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [58], [100]. Đánh giá hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy liên quan đến kháng sinh từ 6 nghiên cứu với số lượng trẻ tham gia 766 trẻ cho thấy nguy cơ tiêu chảy giảm từ 28,5% đến 11,9% [50]. B.lactisS.Thermophilus cho vào sữa công thức và L.Rhamnosus (GG) dưới dạng bổ sung có tác dụng tốt nhất. Chưa có nhiều nghiên cứu đành giá tác động của probiotic lên tiêu chảy do C.Difficile ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

1.2.5.3. Probiotic trong phòng ngừa và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp

Nghiên cứu của Weizman 2005 cho thấy, nhóm trẻ nhóm đối chứng có số đợt bị sốt cao hơn so với nhóm trẻ được bổ sung B. lactis hoặc L.reuteri và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (tương ứng là 0,41 [0,28–0,54] so với 0,27 [0,17– 0,37] và 0,11 [0,04–0,18]) [163].

Trong một nghiên cứu khác trên trẻ từ 1-3 tuổi, được chia thành hai nhóm: nhóm chứng (n= 312) được uống sữa công thức và nhóm can thiệp (n= 312) uống sữa công thức có bổ sung 2,4 g/ngày prebiotic oligosaccharide và 1,9×107 CFU/ngày Bifidobacterium lactis HN019 trong vòng một năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sữa bổ sung prebiotic và probiotic làm giảm tỷ lệ mắc mới của viêm phổi khoảng 24% (95% CI: 0 - 42%; p=0,05) và nhiễm khuẩn hô hấp cấp thể dưới nặng giảm khoảng 35% (95% CI: 0- 58%; p=0,05). So với nhóm chứng thì trẻ ở nhóm can thiệp giảm khoảng 5% (95% CI: 0 - 10%; p=0,05) số ngày bị sốt cao [138]. Kết quả nghiên cứu bổ sung 0,8g GOS/ngày cùng với 8-9 x109 CFU/ngày của hỗn hợp probiotic L.rhamnosus GG, L. LC705, B. breve Bb99, propionibacterium freudenreichii spp shermanii, trong vòng 6 tháng cho trẻ có nguy cơ bị dị ứng cho thấy, số lượng nhiễm khuẩn đường hô hấp giảm đi [137]. Một nghiên cứu khác đã được tiến hành gần đây, với việc bổ sung probiotic đơn lẻ với 1x109 CFU BB12/ngày cho thấy các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp có giảm đi ở trẻ nhỏ [153].

Trong khi đó, một nghiên cứu khác lại cho thấy khi bổ sung L. rhamnosus 1x109 CFU/ngày cho trẻ từ 6 đến 24 tháng, có nguy cơ bị dị ứng và hen, thì không có ảnh hưởng lên thời gian kéo dài và số đợt của triệu chứng thở khò khè [126]. Nghiên cứu của Vliergy và cộng sự với việc bổ sung synbiotic chủng loại như trong nghiên cứu của chúng tôi tuy liều có thấp hơn cho thấy việc bổ sung synbiotic không có tác dụng lên nhiễm khuẫn hô hấp trong 6 tháng can thiệp (số đợt nhiễm khuẩn/tháng là 1,1 lần ở nhóm can thiệp so với 1,0 lần ở nhóm chứng với p> 0,05) [158]. Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của probiotic lên nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp.

1.2.5.4. Probiotic đối với tăng trưởng của trẻ

Một nghiên cứu trên trẻ 18-36 tháng tuổi và trẻ từ 24-26 tháng tuổi cho thấy mức tăng cân nặng và chiều dài nằm của trẻ được uống sữa có chứa probiotic và prebiotic đều cao hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm đối chứng [12], [13]. Kết quả của một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự [52], [162]. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên mù kép về tính an toàn và khả năng dung nạp của việc bổ sung hỗn hợp B. lactis BB 12S. thermophilus với hàm lượng khác nhau (1 x 106 và 1 x 107 CFU / ngày) trên 118 trẻ từ 3 đến 24 tháng tuổi với thời gian can thiệp trung bình là 210 ngày . Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng của trẻ không có sự khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu [133]. 

Một nghiên cứu khác được tiến hành ở trẻ 14 ngày tuổi không được bú mẹ, với việc cho trẻ uống sữa công thức có chứa 2 x 107 CFU Bifidobacterium longum BL999 và 4g/L hỗn hợp chứa 90% galacto-oligosaccharides và 10% fructo-oligosaccharides trong vòng 112 ngày lại cho thấy kết quả là không có sự khác biệt về mức tăng cân giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng với mức tăng trung bình khoảng 1,01 kg [122].

Một nghiên cứu khác trên trẻ 18-36 tháng tuổi với việc bổ sung probiotic và prebiotic cũng cho kết quả là sau 3 tháng can thiệp, mức tăng chiều cao ở nhóm can thiệp là cao hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng (4,93 cm so với 3,89 cm) [15]. Tuy nhiên kết quả của một số nghiên cứu của các tác giả khác lại cho thấy không có sự khác biệt về mức tăng chiều dài nằm/chiều cao ở nhóm có bổ sung prebiotic và probiotic so với nhóm đối chứng [122].

Các nghiên cứu được tiến hành tại một số nước khác trên thế giới, lại đưa ra kết quả khác . Một nghiên cứu được tiến hành tại Hà Lan, trên 126 trẻ sơ sinh với việc bổ sung prebiotic và probiotic, 0,24g prebiotic galacto-oligosaccharides/100 ml sữa và 1 x 107 CFU B.animalis ssp. lactis/g (còn gọi là Bifidobacterium BB12) và 1 x 107 CFU L. paracasei ssp. paracasei/g (còn gọi là L. casei CRL-431), trong vòng 6 tháng cho thấy chỉ số WAZ và HAZ không có sự khác biệt giữa nhóm nghiên cứu so với nhóm chứng (0,1 so với 0,17), (0,51 so với 0,50). Sau 6 tháng can thiệp, mức tăng cân nặng và chiều cao ở nhóm can thiệp là 4152 g và 17,7 cm so với 4282 g và 17,3 cm ở trẻ của nhóm chứng và sự khác nhau giữa các nhóm là không có ý nghĩa thống kê [158].

Một nghiên cứu khác tại Italia, được tiến hành trên 138 trẻ sơ sinh không được bú mẹ với việc cho trẻ uống sữa có chứa 2 x 107 CFU Bifidobacterium longum BL999 và 4g/L hỗn hợp chứa 90% GOS và 10% FOS trong vòng 112 ngày cũng cho thấy không có sự khác biệt về mức tăng chiều cao và cân nặng giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng và mức tăng cân trung bình là khoảng 1,01kg. Mức tăng chiều cao/tháng ở trẻ trai của nhóm chứng và nhóm can thiệp là 3,51cm và 3,51 cm, còn đối với trẻ gái là 3,22 cm và 3,22 cm [122].

Một nghiên cứu khác trên 105 trẻ sơ sinh dưới 2 tháng tuổi thì lại cho kết quả trái chiều, trong nghiên cứu này trẻ của nhóm can thiệp (51 trẻ) được bổ sung sữa công thức chứa Lactobacillus rhamnosus GG và trẻ nhóm chứng được bổ sung sữa công thức cho đến khi trẻ được 6 tháng tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm trẻ can thiệp có sự tăng trưởng tốt hơn so với nhóm chứng, sự thay đổi cân nặng và chiều cao của nhóm can thiệp cao hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng (0,44 ± 0,37 so với 0,07 ± 0,06, P<0,01 và 0,44 ± 0,19 so với 0,07 ± 0,06, P<0,005 ) [157]. Kết quả phân tích tổng hợp của 3 nghiên cứu [67], [115], [170], sử dụng sữa công thức cho trẻ đủ tháng, cũng chỉ ra rằng trẻ được uống bổ sung sữa có chứa prebiotic có mức tăng cân nặng cao hơn một cách có ý nghĩa [119].

Qua kết quả nghiên cứu của các tác giả có thể thấy rằng tác động của prebiotic và probiotic lên tăng trưởng cân nặng và chiều cao của trẻ còn chưa thống nhất.

1.2.5.5. Probiotic trong điều trị dị ứng

Một số nghiên cứu cho thấy số lượng Bifidobacteria ở trẻ bị dị ứng đặc hiệu là ít hơn trẻ không bị dị ứng đặc hiệu. Có giả thuyết cho rằng Bifidobacteria có hiệu quả hơn trong việc làm tăng dung nạp đối với các kháng nguyên không có nguồn gốc vi khuẩn bằng cách ức chế sự phát triển của Th2 (proallergic).

Ở những trẻ bị viêm da dị ứng được uống sữa công thức thủy phân có bổ sung

L.Rhamnosus (GG) thì việc cải thiện lâm sàng tốt hơn so với sữa thủy phân bình thường, người ta cho rằng do probiotic làm giảm tính thẩm thấu của ruột [95]. Trẻ bị dị ứng đặc dị được điều trị tích cực bằng sữa thủy phân được bổ sung L.Rhamnosus (GG) hoặc B.Lactis có sự cải thiện tốt hơn mức độ nặng của các biểu hiện ngoài da so với trẻ uống sữa bình thường. Đối với nhóm bổ sung thì CD4 huyết thanh giảm và TGF-â1 thì tăng lên [95].

Một số nghiên cứu cho rằng việc bổ sung thường xuyên có thể ổn định chức năng rào cản của đường ruột và đóng vai trò trong việc điều chỉnh các đáp ứng miễn dịch làm giảm mức độ nặng của các triệu chứng của dị ứng đặc dị, đặc biệt là viêm da dị ứng liên quan đến protein sữa bò [95]. Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy có sự thay đổi thành phần vi khuẩn trong phân của trẻ bị dị ứng đặc hiệu (lượng BacteroidesE.Coli trong phân giảm). Điều thú vị là IgE huyết thanh có mối liên quan đến số lượng E.Coli và đối với trẻ mẫn cảm thì IgE lại có mối liên quan đến số lượng Bacteroides. Do vậy mỗi loại probiotic dường như tác động lên các đáp ứng gây viêm do dị nguyên và tạo nên tác dụng rào cản chống lại các kháng nguyên gây ra triệu chứng dị ứng hệ thống như chàm bội nhiễm [98].

1.2.5.6. Probiotic trong điều trị viêm ruột hoại tử (NEC)

Vi khuẩn chí đường ruột giúp cho việc giữ gìn sự toàn vẹn của hệ miễn dịch, phòng các bệnh lây nhiễm, sản xuất vitamin và giúp cho sự phát triển của màng nhày [108]. Một nghiên cứu trên 12.000 trẻ được bổ sung L.AcidophilusB.Infantis về tỷ lệ mắc mới của viêm ruột kết hoại tử cho thấy việc giảm một cách có ý nghĩa tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ chết do viêm ruột kết hoại tử ở nhóm probiotic so với nhóm chứng [159].

Như vậy có bằng chứng lâm sàng rõ ràng cho việc áp dụng các hiệu quả của probiotic lên các vi khuẩn chí đường ruột đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Các lợi ích lâm sàng cụ thể tùy thuộc vào từng probiotic.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

Похожие:

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic icon3. Chủ đề và chuẩn đầu ra của học phần

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconArt. 2º Este Decreto entra em vigor na data de sua publicação

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconCemitério São Francisco de Paula, Pelotas-rs: uma análise da relação entre sua infra-estrutura e os impactos na saúde da população do entorno

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPrologo Piccolo sulla sua piccola terra, l'uomo contempla l'universo del quale è a un tempo giudice e vittima W. H. Auden X ii termine universo nella

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconB Pre-requisites for the course

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-requisites: 74% or better

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconProtein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống, về mặt số lượng, protein chiếm không dưới 50% trọng lượng khô của tế bào; về thành

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconEnglish one Pre ap period 2

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre requisites / Recommended

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-Session Events: 8: 00 am to 12: 00 pm

Разместите кнопку на своём сайте:
Библиотека


База данных защищена авторским правом ©lib.znate.ru 2014
обратиться к администрации
Библиотека
Главная страница