Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic




НазваниеẢnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic
страница2/17
Дата11.10.2012
Размер1.05 Mb.
ТипДокументы
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU



1. Mô tả thực trạng NCBSM, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật của trẻ từ 5-6 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.


2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của sữa bổ sung prebiotic và synbiotic (probiotic kết hợp với prebiotic) đến tình trạng dinh dưỡng, tình trạng nhiễm khuẩn và hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ từ 6-12 tháng tuổi trong 6 tháng can thiệp.


Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU


1.1. HỆ VI KHUẨN CHÍ ĐƯỜNG RUỘT

1.1.1. Khái niệm

Vi khuẩn chí đường ruột là các vi khuẩn sống bình thường trong đường tiêu hoá và thực hiện nhiều chức năng có lợi cho con người. Cơ thể con người có khoảng 1013 tế bào, trong khi đó số vi khuẩn có trong đường ruột còn gấp mười lần [83], [142]. Phần lớn vi khuẩn ở trong ruột [155] và 60% trong phân [83]. Có khoảng từ 300 đến 1000 loài vi khuẩn sống trong đường ruột [83], trung bình khoảng 500 loài [142]. Tuy nhiên mỗi cá thể có khoảng từ 30-40 loài chiếm ưu thế [79]. Nấm (Saccharomyces boulardii) cũng là một phần của vi khuẩn đường ruột, nhưng hoạt động của chúng ít được biết đến.

Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa vi khuẩn và con người không chỉ đơn thuần là mối liên quan hội sinh (không gây hại) mà là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau - mối quan hệ cộng sinh [83]. Mặc dù con người có thể sống mà không cần đến vi khuẩn chí [142], nhưng trong thực tế, các vi khuẩn chí thực hiện nhiều chức năng có lợi cho con người, như làm lên men các chất chứa năng lượng chưa được sử dụng, tác động lên hệ miễn dịch, kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn có hại, điều hoà sự phát triển của ruột, tạo ra vitamin cho cơ thể như biotin và vitamin K, tạo hóc môn điều khiển dự trữ mỡ của cơ thể... Tuy nhiên, trong một số tình huống nhất định thì một số loài có thể gây bệnh và làm tăng nguy cơ gây ung thư [143]. Không phải tất cả các vi khuẩn ăn vào đều là probiotic vì bên cạnh việc lên men các loại thực phẩm thì lợi ích của nó chưa được xác định và các vi khuẩn cũng có các cơ chế khác nhau tác động lên cơ thể.

Các thực phẩm lên men, đặc biệt là các sản phẩm làm từ sữa như sữa chua, đã được sử dụng từ lâu. Ngày nay thực phẩm và nước giải khát có chứa các vi khuẩn sản sinh acid lactic (LAB) chiếm khoảng 40% thực phẩm sử dụng trên thế giới, các vi khuẩn LAB đặc biệt là các loài Lactobacilli, Bifidobacteria, Streptococcus là được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm, chúng hiếm khi gây bệnh nhiễm trùng và có tác hại đối với cơ thể con người. Chỉ có một số nhỏ các loài này được nghiên cứu và có tác dụng như một probiotic.

Các probiotic thường được nghiên cứu cho đến nay là loài Lactobacillus bao gồm các chủng như L.Rhamnosus (GG), L.Acidophilus, L.Casei, L.Johnsonii, L.Reuteri là được nghiên cứu nhiều nhất ở người. Đối với loài Bifidobacteria, các chủng được nghiên cứu nhiều nhất là B.Breve, B.Infantis, B.Lactis, B.Longum. Tên gọi của các chủng cũng có sự thay đổi ví dụ như B.Lactis còn được gọi là B.Bifidum, B.Animalis hoặc Bifidobacterium, BB12. Rhamnosus của chủng Lactobacillus Pacasei còn được gọi là Lactobacillus GG.

1.1.2. Sự xuất hiện vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ sơ sinh

Đường ruột của trẻ mới sinh là vô trùng. Ngay sau khi được sinh ra, số lượng vi khuẩn chí đường ruột của trẻ phát triển nhanh và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yếu tố di truyền, đẻ thường hay đẻ có can thiệp, vi khuẩn của người mẹ, cách nuôi trẻ và môi trường xung quanh trẻ. Khi đứa trẻ vừa được sinh ra, ngay lập tức vi khuẩn từ người mẹ và môi trường xung quanh xâm nhập vào đường tiêu hoá của trẻ. Ngay sau khi đẻ trẻ sơ sinh đã có vi khuẩn ở đường tiêu hoá, các vi khuẩn này có nguồn gốc từ phân của người mẹ, nếu đứa trẻ được sinh ra bằng can thiệp thì có thể nhiễm vi khuẩn từ mẹ, nhưng chủ yếu là từ môi trường xung quanh [140]. Sau khi sinh, vi khuẩn từ môi trường bên ngoài qua đường miệng và đường da thâm nhập vào cơ thể trẻ khi mẹ cho trẻ bú, hôn trẻ, vuốt ve...

E. coli streptococci là những vi khuẩn đầu tiên có mặt ở trẻ và chỉ sau vài ngày số lượng vi khuẩn có thể đạt tới 108 – 1010/g phân [140]. Trong tuần đầu sau khi sinh, những vi khuẩn này tạo nên một môi trường thuận lợi cho sự có mặt tiếp theo của các vi khuẩn kị khí, chủ yếu là các vi khuẩn thuộc các loài Bifidobacterium, Bacteroides, ClostridiumRuminococcus [69]. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thì Bifidobacteria tăng nhanh và chiếm ưu thế, có thể do trong sữa mẹ có yếu tố phát triển Bifidobacteria và chiếm khoảng 80-90% tổng số vi khuẩn, LactobacilliBacteroids cũng tăng nhưng ít hơn và Enterobacteria thì giảm. Trẻ được nuôi bằng các loại sữa bột thì vi khuẩn đa dạng hơn với số lượng lớn Enterobacteriaceae, enterococci, bifidobacteria, Bacteroides clostridia [57], chủ yếu là ColiformBacteroids [87], [66]. Khi trẻ bắt đầu ăn dặm, thì vi khuẩn của trẻ bú mẹ là gần giống như của trẻ ăn sữa ngoài, khi trẻ hai tuổi thì hệ vi khuẩn trong cơ thể giống như ở người trưởng thành. Mặc dù thành phần của vi khuẩn đường ruột là khác nhau giữa các cá thể, nhưng trong một cá thể thì thành phần này là ổn định trong 1 thời gian dài (16-18 triệu).

1.1.3. Sự phân bố của các vi khuẩn đường ruột

Trong cơ thể, đại tràng là nơi có số lượng lớn và nhiều loài vi khuẩn nhất, hoạt động của chúng làm cho ruột già trở thành cơ quan chuyển hoá tích cực của cơ thể [155]. Phần lớn vi khuẩn ở ruột non là vi khuẩn gram (+), trong khi đó ở đại tràng là gram(-) [34]. Phần đầu của ruột kết phần lớn chịu trách nhiệm việc lên men carbohydrate [143], [155] trong khi đó phần sau của ruột chịu trách nhiệm phân huỷ proteinamino acid [143], [155]. Vi khuẩn phát triển nhanh ở manh tràng và phần đi lên của ruột kết, nơi có độ pH thấp, phát triển chậm ở kết tràng, nơi có độ pH gần như trung tính [143]. Cơ thể điều chỉnh sự cân bằng và phân bố của vi khuẩn thông qua thay đổi độ pH, hoạt động hệ miễn dịch và nhu động ruột.

Hơn 99% vi khuẩn đường ruột là vi khuẩn kị khí [143], nhưng ở manh tràng thì vi khuẩn yếm khí có mật độ cao [143].

1.1.4. Các loài vi khuẩn chí đường ruột

Không phải tất cả các loài vi khuẩn đường ruột đều được xác định [143], [155], do một vài loài không nuôi cấy được [83], [79], do vậy việc phân lập và xác định DNA là rất khó khăn [145]. Mật độ các loài là khác nhau giữa các cá thể, nhưng

tương đối ổn định trên từng cá thể [143].



Biều đồ 1. Phân bố vi khuẩn tại các đoạn khác nhau trong đường tiêu hóa người trưởng thành

Phần lớn vi khuẩn là các giống Bacteroides, Clostridium, Fusobacterium [143], [79], Eubacterium, Ruminococcus, Peptococcus, PeptostreptococcusBifidobacterium [143], [79]. Các giống khác như EscherichiaLactobacillus là ít hơn [143]. Các loài của Bacteroides chiếm khoảng 30% vi khuẩn đường ruột và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của cơ thể người [83].

Hiện nay người ta cũng biết đến các giống nấm của đường ruột như Candida, Saccharomyces, Aspergillus Penicillium.

1.1.5. Vai trò của vi khuẩn chí đường ruột

Vi khuẩn ở đường ruột thực hiện nhiều chức năng hữu ích cho con người, bao gồm chức năng tiêu hoá các chất giàu năng lượng chưa được sử dụng [69], kích thích sự tăng trưởng tế bào, ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại, làm cho hệ miễn dịch chỉ phản ứng đối với các vi khuẩn gây bệnh, bảo vệ cơ thể khỏi một số bệnh [143], [83].

1.1.5.1. Tác dụng tới quá trình lên men Carbohydrate và hấp thu

Cơ thể con người không thể sử dụng một vài carbohydrate, không thể tiêu hoá

nếu thiếu vi khuẩn đường ruột do một số vi khuẩn có các enzyme để chuyển hoá một số loại polysaccharide mà tế bào người không có [83]. Carbohydrate mà cơ thể người không thể tiêu hoá nếu thiếu vi khuẩn chí là các loại tinh bột, chất xơ, oligosaccharide và đường như lactose, đường rượu, chất nhày đường ruột và protein [143], [155].

Vi khuẩn chí giúp chuyển hoá carbohydrate, lên men và chuyển thành các acid béo mạch ngắn (SCFAs) [155], [79] và được cơ thể sử dụng như một nguồn năng lượng và các chất dinh dưỡng hữu ích [155], chúng còn làm tăng hấp thu nước, giảm khả năng phát triển các vi khuẩn gây bệnh, tăng sự phát triển tế bào đường ruột và phát triển vi khuẩn có ích [145]. Các acid béo mạch ngắn được tạo thành do quá trình lên men đường bao gồm các acid như acid propionic, acid butyric…[155], [79]. Gas và các acid hữu cơ như acid lactic cũng được sản xuất nhờ quá trình lên men này [79]. Acid acetic được cơ thể sử dụng, acid propionic giúp gan sản xuất ATP và acid butyric cung cấp năng lượng cho tế bào đường ruột và có tác dụng ngăn ngừa ung thư [155].

Có nhiều bằng chứng khác còn cho thấy vi khuẩn chí làm tăng quá trình hấp thu và dự trữ lipid [83]. Vi khuẩn chí giúp cơ thể tăng hấp thu các vitamin như vitamin K. Hơn nữa các acid béo mạch ngắn còn giúp cơ thể hấp thu các chất khác như calci, magie và sắt [143]. Các acid béo mạch ngắn còn làm tăng sự phát triển, kiểm soát sự tăng sinh và biệt hoá các tế bào biểu mô ruột [143], giúp các mô lympho cạnh đường tiêu hoá phát triển. Vi khuẩn còn làm thay đổi sự phát triển đường ruột thông qua việc thay đổi sản sinh các protein bề mặt tế bào như protein vận chuyển natri và glucose [83].

1.1.5.2. Ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh

Một vai trò quan trọng khác của vi khuẩn chí là ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, nấm và các vi khuẩn có hại như Clostridium difficile không thể phát triển quá mức do phải cạnh tranh với các vi khuẩn có ích. Tác dụng rào cản của vi khuẩn có ích là ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh và ức chế sự phát triển làm giảm số lượng các vi khuẩn này trong đường ruột [143].

Các vi khuẩn chí còn ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại thông qua cạnh tranh các chất dinh dưỡng và điểm gắn (receptor) vào tế bào biểu mô của ruột kết. Các vi khuẩn cộng sinh thường thành công hơn trong việc cạnh tranh này. Các vi khuẩn chí gửi các tín hiệu hoá học đến chủ thể về số lượng chất dinh dưỡng mà chúng cần và chủ thể chỉ cung cấp đủ số lượng đó, do vậy các vi khuẩn có hại bị đói, thiếu chất dinh dưỡng. Các vi khuẩn có ích còn sản xuất ra chất bacteriocin có thể tiêu diệt vi khuẩn có hại và số lượng của chúng được điều khiển bởi các enzyme của chủ thể [143].

Quá trình lên men và tạo ra các acid béo cũng làm giảm độ pH trong ruột già, làm giảm sự tăng sinh của vi khuẩn có hại và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có ích. Độ pH cũng có thể làm tăng bài tiết carcinogen [155].

1.1.5.3. Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch

Các vi khuẩn chí đường ruột tác động một cách liên tục lên hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch của cơ thể. Các vi khuẩn này là yếu tố quan trọng trong sự phát triển sớm hệ miễn dịch màng nhày, cả yếu tố vật lí và chức năng, nó còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng sau này trong hoạt động của chúng. Các vi khuẩn kích thích các tế bào lympho cùng với màng nhày tạo ra các kháng thể đối với vi khuẩn gây bệnh. Hệ miễn dịch nhận biết và tiêu diệt các vi khuẩn có hại, không tiêu diệt các vi khuẩn có ích và sự dung nạp được hình thành ở trẻ [143].

Ngay sau khi sinh, vi khuẩn đã có mặt trong đường tiêu hoá của trẻ. Những vi khuẩn có mặt đầu tiên trong đường tiêu hoá có khả năng tác động lên các đáp ứng miễn dịch và làm cho chúng thuận lợi hơn với các vi khuẩn này và ít thuận lợi hơn cho các vi khuẩn cạnh tranh, do vậy các vi khuẩn có mặt đầu tiên trong ruột đóng vai trò quan trọng trong thành phần vi khuẩn đường tiêu hoá sau này. Tuy nhiên từ thời điểm trẻ ăn bổ sung thì ưu thế chuyển từ vi khuẩn yếm khí như

Streptococci Escherichia coli sang vi khuẩn kị khí [143], [83].

Các nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy, các vi khuẩn chí đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc sản sinh TLRs trong ruột giúp cơ thể hàn gắn các tổn thương. Vi khuẩn chí có thể ảnh hưởng đến "dung nạp miệng" làm cho nó ít nhạy cảm với các kháng nguyên được tiêu hoá, trong đó có kháng nguyên do vi khuẩn có ích tạo ra. LactobacilliBifidobacteria có thể tác động lên miễn dịch cục bộ và miễn dịch hệ thống [144]. Tần suất mắc bệnh và các rối loạn đường ruột ở trẻ được bú mẹ có thể liên quan đến sự khác nhau về thành phần vi khuẩn giữa trẻ bú mẹ và trẻ được nuôi bằng sữa công thức. LactobacilliBifidobacteria định cư trong ruột chống lại việc định cư của các vi khuẩn gây bệnh và do vậy nó thực hiện một phần chức năng rào cản của ruột. Các vi khuẩn này cũng có liên quan đến việc bài tiết các chất có tính chất chống vi khuẩn [146] và mucin thông qua việc kích thích gen MUC2 và MUC3, một phần rào cản của ruột ngăn chặn sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh [107]. Một vài LactobacilliBifidobacteria làm giảm các phản ứng miễn dịch đối với các kháng nguyên và làm giảm các đáp ứng miễn dịch dị ứng.

Một tác động khác của vi khuẩn đường ruột là làm tăng đáp ứng miễn dịch sIgA và vi khuẩn đường ruột. sIgA là immunoglobulin quan trọng và chiếm ưu thế trên bề mặt màng nhày, bảo vệ chống lại các kháng nguyên, vi khuẩn gây bệnh, các độc tố và các yếu tố độc hại khác [72]. Việc tổng hợp sIgA ở ruột chịu tác động của vi khuẩn. Sự phát triển của tế bào sản xuất IgA ở màng nhày của ruột, tiền sIgA chịu ảnh hưởng nhiều của vi khuẩn đường ruột. Sữa mẹ có chứa nhiều sIgA và truyền sang cho trẻ. Thêm vào đó Bifidobacteria có nhiều ở những trẻ được bú mẹ kích thích việc tổng hợp và bài tiết IgA. Trong 28 ngày đầu sau khi sinh, ở những trẻ được nuôi bằng sữa công thức thì sIgA không có trong phân [31]. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy khi bổ sung LactobacilliBifidobacteria bằng đường miệng thì ảnh hưởng đến sIgA [154] Các nghiên cứu trên trẻ sơ sinh nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung một số loài LactobacilliBifidobacteria lên việc kích thích các đáp ứng miễn dịch màng nhày cũng cho các kết quả dương tính. Có thể nói rằng từng loại vi khuẩn, (đặc biệt là Bifidobacteria Lactobacilli) đã giúp cho vật chủ (cơ thể) duy trì chức năng rào cản của ruột và các đáp ứng miễn dịch một cách hợp lí.

1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

Похожие:

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic icon3. Chủ đề và chuẩn đầu ra của học phần

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconArt. 2º Este Decreto entra em vigor na data de sua publicação

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconCemitério São Francisco de Paula, Pelotas-rs: uma análise da relação entre sua infra-estrutura e os impactos na saúde da população do entorno

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPrologo Piccolo sulla sua piccola terra, l'uomo contempla l'universo del quale è a un tempo giudice e vittima W. H. Auden X ii termine universo nella

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconB Pre-requisites for the course

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-requisites: 74% or better

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconProtein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống, về mặt số lượng, protein chiếm không dưới 50% trọng lượng khô của tế bào; về thành

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconEnglish one Pre ap period 2

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre requisites / Recommended

Ảnh hưỞng của sữa bổ sung pre-probiotic iconPre-Session Events: 8: 00 am to 12: 00 pm

Разместите кнопку на своём сайте:
Библиотека


База данных защищена авторским правом ©lib.znate.ru 2014
обратиться к администрации
Библиотека
Главная страница